Một số khác biệt về bệnh lý gan mật ở chó và mèo
1️⃣. Chó: 2 ống tuỵ riêng biệt, không nhập vào chung với ống mật. Mèo: ống mật nhập vào chung với ống tuỵ và đi ra ở tá tràng → mèo thường bị viêm đường mật đi kèm với viêm tuỵ do vi khuẩn từ hệ tiêu hoá và loại viêm đường mật đặc trưng và phổ biến nhất ở mèo là neutrophilic cholangitis / cholangiohepatitis (ít xảy ra ở chó) Khác với chó , khi bị sỏi mật, cần phải phẫu thuật loại bỏ sỏi. Tuy nhiên ở mèo, sỏi mật thường gây ra do vi khuẩn trong bệnh neutrophilic cholangitis / cholangiohepatitis, vì vậy, cần điều trị bằng kháng sinh trước, vì phẫu thuật ngay có thể tăng nguy cơ khuếch tán vi khuẩn đến các cơ quan khác và gây nhiễm trùng huyết.
2️⃣. Chó thường bệnh ở nhu mô gan. Mèo thường bệnh về đường mật
3️⃣. Bệnh gan mãn tính Chó: giảm kích thước gan. Mèo: kích thước gan không thay đổi hoặc tăng nhẹ, chỉ giảm kích thước khi đã ở giai đoạn cuối cùng
4️⃣. Mèo thiếu enzyme glucuronyl transferase nên chuyển hoá các chất ở gan kém hơn chó → khả năng ngộ độc cao hơn ở chó
5️⃣. Mèo không bị tăng ALP do steroid, Chó bị tăng ALP do steroid → ứng dụng trong chẩn đoán từ kết quả xét nghiệm sinh hoá
6️⃣. Chó ALP có chu kỳ bán rã (half-life) dài hơn ở mèo → đánh giá khả năng hồi phục bệnh không nên dựa vào mức độ giảm của ALP trong thời gian ngắn ở chó
7️⃣. Đặc điểm của loài ăn thịt bắt buộc trong chuyển hoá của mèo:
– gan tự tạo đường liên tục dù chế độ ăn không có nhiều tinh bột (constant high gluconeogenesis)
– vai trò đặc biệt của arginine trong chuyển hoá và vận chuyển mỡ ở gan khiến cho mèo có nguy cơ rất cao mắc bệnh gan nhiễm mỡ (một trong những bệnh gan phổ biến nhất ở mèo)
– arginine còn có vai trò trong chu trình chuyển hoá urea từ ammoniac nhưng mèo lại chỉ sản xuất được một lượng arginine rất ít ở tế bào ruột và ở thận, vì vậy, arginine từ thức ăn rất quan trọng trong bệnh não-gan (co giật do lượng ammoniac cao) (Sinh lý: Đạm từ khẩu phần ăn → ammoniac → chuyển hoá ammoniac thành urea ở gan → chuyển hoá urea và thải ra nước tiểu qua thận. Do đó, tăng ammoniac trong máu khi gan tổn thương, không thể thực hiện chức năng chuyển hoá hoặc thiếu arginine và tăng urea trong máu khi thận tổn thương, không thể đào thải ra ngoài)
– vai trò đặc biệt của taurine trong hình thành muối mật để hấp thu mỡ từ thức ăn (các động vật có vú khác có thể sử dụng glycine trong trường hợp thiếu taurine nhưng mèo không có khả năng này). Tuy nhiên, chó có khả năng tổng hợp đủ taurine và mèo thì không.
BSTY Bùi Phương Anh – BSTY Huỳnh Thế Vinh
Veterinary Medicine Faculty – Wrocław University of Environmental and Life Science
Tham khảo:
https://wsava.org/global…/liver-disease-guidelines/
Textbook of veterinary internal medicine, Saunders Elsevier, Stephen J. Ettinger, Edward C. Feldman, 7th edition
https://www.researchgate.net/…/326712935_Acquired_urea…
https://www.sciencedirect.com/…/pharmacology…/taurine
https://www.vin.com/apputil/content/defaultadv1.aspx…
https://onlinelibrary.wiley.com/…/j.1748-5827.1990…
https://journals.sagepub.com/doi/10.1177/1098612X18818666
https://www.google.com/url?sa=t&rct=j&q=&esrc=s&source=web&cd=&cad=rja&uact=8&ved=2ahUKEwjC4bvO55uDAxXSSfEDHRrNAV44ChAWegQICRAB&url=https://acikders.ankara.edu.tr/mod/resource/view.php?id=77404&usg=AOvVaw1wLI_AwII6tXKNngQbH6nL&opi=89978449
https://repository.si.edu/…/serc_Eisert_2011_cats.pdf…
