11 mins read

Bệnh giảm bạch cầu mèo (Feline panleukopenia)

Bệnh giảm bạch cầu mèo là bệnh gì?

Feline panleukopenia (FP) là bệnh có tỉ lệ lây nhiễm cao trên mèo, gây ra bởi Feline Parvovirus. Mèo con thường bị nhiễm bệnh hơn so với mèo trưởng thành. Bệnh giảm bạch cầu mèo cũng thường được gọi là care mèo hoặc parvo mèo, tuy tên gọi tương tự như bệnh care và parvo ở chó nhưng virut gây bệnh thì hoàn toàn khác nhau. Virut không truyền lây sang người.

Virut xâm nhiễm và tiêu diệt tế bào sau đó phát triển và phân chia nhanh chóng ở các vùng tủy xương, đường ruột và thai đang phát triển.


Mèo nào thì nhạy cảm với bệnh?

Bởi vì virut giảm bạch cầu mèo có ở khắp nơi ngoài môi trường, nên mèo con và mèo trưởng thành có thể phơi nhiễm mầm bệnh ở các giai đoạn sống của chúng nhưng mèo con, mèo bệnh và mèo chưa tiêm phòng thì dễ nhiễm bệnh nhất. Thường thấy ở mèo 3-5 tháng tuổi kèm tỉ lệ tử vong cao.


Mèo bị nhiễm bệnh như thể nào?

Mèo có thể bài thải mầm bệnh trong nước tiểu, phân và dịch tiết ở mũi, nhiễm trùng xảy ra khi mèo tiếp xúc với dịch tiết của mèo bệnh hoặc thậm chí là bọ chét ở trên người mèo bệnh. Mèo bị nhiễm bệnh có thể bài thải mầm bệnh trong thời gian ngắn (1-2 ngày), nhưng virut có thể sống ngoài môi trường hàng năm trời, nên mèo vẫn có khả năng nhiễm bệnh mà không cần tiếp xúc trực tiếp với mèo bệnh. Nệm ngủ, chuồng, dĩa đựng thức ăn, thậm chí tay và quần áo của người tiếp xúc với mèo bệnh cũng có thể là tác nhân truyền lây mầm bệnh. Vì vậy, cách ly mèo bệnh thì rất quan trọng, những vật dụng của mèo bệnh không bao giờ được sử dụng cho mèo khác. Virut gây bệnh rất khó bị tiêu diệt bởi các thuốc sát trùng thông thường. Sử dụng thuốc tẩy pha nước tỉ lệ 1:32 để ngâm bề mặt vật dụng trong vòng 10p có thể tiêu diệt virut.


Chẩn đoán FPV như thế nào?

Triệu chứng bệnh khá giống với các bệnh khác như là: Salmonella hoặc Campylobacter, viêm tụy, FIV hoặc FeLV. Mèo bệnh thậm chí có thể có những triệu chứng tương tự như trúng độc hoặc nuốt phải dị vật. Virut gây tổn thương tế bào đường ruột, nó cũng có thể tấn công vào tủy xương và hạch bạch huyết dẫn đến rút ngắn thời gian sống của tế bào bạch cầu (giảm bạch cầu) và tế bào hồng cầu (thiếu máu).

Những dấu hiệu ban đầu chủ nuôi có thể nhìn thấy bao gồm: suy nhược, giảm ăn, sốt cao, lờ đờ, nôn ói, tiêu chảy nghiêm trọng, dịch mũi và thiếu nước. Mèo bệnh có thể ngồi hàng giờ bên thau nước nhưng lại chẳng uống lấy một giọt. Ở một số mèo, có thể sốt lên hạ xuống trong suốt chu kỳ bệnh và hạ nhiệt trước khi mất. Ở mèo sơ sinh, virut có thể tổn thương não và mắt. Mèo mang thai nhiễm bệnh (thậm chí khi triệu chứng không nghiêm trọng) có thể bị sẩy thai hoặc mèo con sinh ra bị tổn thương vùng tiểu não nghiêm trọng, vùng não kiểm soát sự vận động của cơ thể. Đây được gọi là hội chứng mất điều hòa vùng tiểu não ở mèo, lắc lư khi di chuyển.

Giảm bạch cầu mèo có thể được chẩn đoán dựa trên bệnh sử, không tiêm phòng đầy đủ, và dấu hiệu bệnh. Ngoài ra, kết hợp với xét nghiệm tế bào máu cho thấy sự sụt giảm nghiêm trọng tế bào bạch cầu. FPV có thể được chẩn đoán ở phân của mèo nhưng kết quả có thể bị dương tính giả nếu mèo được tiêm phòng trong khoảng 5-12 ngày trước khi xét nghiệm.


Điều trị FPV như thế nào?

Tỉ lệ phục hồi ở mèo dưới 8 tuần tuổi thì rất thấp. Mèo lớn hơn thì tỉ lệ sống cao hơn nếu được tiếp nhận điều trị kịp thời. Vì virut không có thuốc đặc trị, nên chăm sóc tích cực để hỗ trợ sức khỏe mèo bệnh đến khi tự miễn dịch của cơ thể chiến thắng được virut.

Điều trị chủ yếu là bù dịch, cung cấp dinh dưỡng và phòng bội nhiễm. Mặc dù kháng sinh không thể điều trị được virut nhưng cần thiết để kiểm soát rủi ro nhiễm khuẩn do suy giảm miễn dịch, ngoài ra vi khuẩn còn có thể xâm nhiễm vào máu từ đường ruột bị tổn thương.

Nếu mèo vượt qua được 5 ngày thì tỉ lệ phục hồi cao. Cần cách ly nghiêm ngặt để tránh lây lan mầm bệnh.

Nghiên cứu cho thấy sử dụng Neupogen hay Filgrastim giúp tăng bạch cầu ở mèo bệnh và mèo khỏe mạnh. Nếu mèo có thể vượt qua được 3-4 ngày sau khi xuất hiện triệu chứng, Neupogen có thể giúp ngăn chặn shock nhiễm trùng và tăng tỉ lệ điều trị thành công.

Liệu trình điều trị:

• Điều trị hỗ trợ

• Filgratism: tiêm dưới da, một lần/ngày trong vòng 2-3 ngày sau đó nghỉ ngày thứ 4 và lặp lại vào 2 ngày tiếp theo. Liều dùng: 1mcg-6mcg/kg.

• Truyền dịch: 3-4.4% trọng lượng mèo.

• Kháng sinh: Baytril 5mg/kg SID và Penicillin G 20000 units/kg BID hoặc Clavamox.

• Thuốc hỗ trợ: Vitamin B12 (0.05-0.1ml cho mèo con và 0.25ml cho mèo trưởng thành).

• Tăng miễn dịch Beta-glucan 1 viên 2lần/ngày. 

• Nhiệt độ: kiểm tra nhiệt độ thường xuyên, nhiệt độ cao có thể tiêu diệt virut nhưng nếu cao hơn 40 độ thì sử dụng hạ sốt kháng viêm ( Metacam, hoặc ketoprofen).

• Chống ói: Ondansetron 0.1mg/kg

• Hỗ trợ chức năng gan: nếu mèo hết ói và ăn ít thì men gan nên ở mức bình thường. Nếu men gan cao, có thể sử dụng thêm silymarin (1/20 viên thuốc người 2 lần /ngày).

• Điều trị cho mèo con, tiêu chảy có máu: sử dụng tamiflu 1-2mg/kg BID.


BSTY Hồ Lê Kiều Diễm
Vietnam

Để lại một bình luận