16 mins read

Bệnh do vi rút Herpes trên mèo

Tổng quan

Virus herpesvirus ở mèo (FHV-1) là một loại virus phổ biến ở khắp nơi mà các chủng của chúng không khác nhau nhiều về độc lực lâm sàng trên toàn thế giới. 

Virus xâm nhập qua đường mũi, đường miệng hoặc đường kết mạc. Nó gây nhiễm trùng biểu mô mũi và lan đến túi kết mạc, hầu, khí quản, phế quản và tiểu phế quản. Tổn thương được đặc trưng bởi biểu mô hoại tử đa ổ, với thâm nhiễm và viêm nhiễm bạch cầu hạt trung tính. 

Sự bài tiết của virus bắt đầu ngay sau 24 giờ sau khi nhiễm và kéo dài từ 1 đến 3 tuần. Bệnh cấp tính khỏi trong vòng 10 đến 14 ngày. Một số động vật có thể phát triển các tổn thương mãn tính ở đường hô hấp trên và các mô ở mắt. Vi rút bị bất hoạt trong vòng 3 giờ ở 37 ° C và nhạy cảm với hầu hết các chất khử trùng, chất sát khuẩn và chất tẩy rửa thông thường. Ở 4 ° C, nó vẫn có khả năng lây nhiễm trong khoảng năm tháng, ở 25 ° C trong khoảng một tháng, và nó bị bất hoạt ở 56 ° C trong 4-5 phút (Pedersen, 1987).

Mèo con dễ dàng nhiễm FHV-1 ở các tuần tuổi đầu tiên khi mà kháng thể mẹ truyền bắt đầu suy giảm. Nhiễm trùng nhau thai chưa được nhìn thấy trên thực tế. Mèo mẹ mang bệnh tiềm ẩn có thể truyền FHV cho con của chúng vì quá trình sinh nở và cho con bú thường gây căng thẳng dẫn đến sự tái hoạt và bài thải của vi rút. Do đó, mèo con có thể bị nhiễm FHV khi còn nhỏ, trước khi tiêm phòng. Mèo con nhiễm bệnh thường chắc chắn sẽ có triệu chứng ở đường hô hấp trên và mắt nghiêm trọng, tỉ lệ lây nhiễm cao nhưng tỉ lệ tử vong thấp.
Ngược lại, mèo trưởng thành cũng có thể bị tái nhiễm bệnh sau khi phục hồi, bài thải vi rút và lây nhiễm cho mèo khác khi tiếp xúc, tất cả điều này có thể diễn ra mà không có bất cứ triệu chứng lâm sàng nào.Ở mèo mang bệnh, FHV nhân lên trong các tế bào biểu mô của cả kết mạc và đường hô hấp trên, và trong các tế bào thần kinh. Nhiễm trùng tế bào thần kinh cho phép vi rút thiết lập thời gian tồn tại suốt đời sau khi nhiễm trùng sơ cấp.

Sự phát tán vi rút của những con mèo bị nhiễm bệnh cấp tính cũng như những con mèo bị nhiễm bệnh tiềm ẩn đang bị kích hoạt trở lại là hai nguồn lây nhiễm chính (Gaskell và Povey, 1982).


Chẩn đoán

Các phương pháp chuẩn đoán xét nghiệm thường không nhạy và không đặc hiệu. Các chuẩn đoán hiện nay chủ yếu dựa vào lịch sử bệnh và dấu hiệu lâm sàng kết hợp với đáp ứng điều trị. Điều này cũng khá bất cập vì phụ thuộc một phần vào việc chủ nuôi có tuân thủ nghiêm ngặt phát đồ điều trị để có thể đánh giá khách quan nhất về đáp ứng của con vật.

Hai nguyên nhân phổ biến nhất gây viêm kết mạc mắt truyền nhiễm ở mèo là FHV-1 và C. Felis. Từ các dấu hiệu lâm sàng khác biệt có thể đưa ra chẩn đoán phân biệt giữa FHV-1 và C.felis.

Triệu chứng lâm sàngFHV-1C.felis
Viêm kết mạc sung huyết+++++
Phù kết mạc++++
Loét kết mạc+/-
Viêm giác mạc+/-
Dạng nhánh câyĐặc trưng bệnh
Triệu chứng hô hấp/khó chịu++(cấp tính) +/- (tái nhiễm)+/-

Điều trị

Nếu việc đáp ứng điều trị được xem như là một phần của “xét nghiệm chuẩn đoán” thì phải chọn phương án điều trị tối ưu nhất cho từng cá thể mèo. Điều này đòi hỏi kiến thức về:

  • Độ nhạy của FHV-1 với từng loại thuốc
  • Mèo dung nạp thuốc tốt hay không và mức độ an toàn của từng loại.
  • Mô nào thì có thể điều trị cục bộ hoặc phải sử dụng liệu pháp toàn thân
  • Khả năng của chủ nuôi

Điều trị hỗ trợ:

  • Truyền dịch bù nước, điện giải và cân bằng acid-bazo là bắt buộc ở những mèo có triệu chứng lâm sàng nghiêm trọng (ví dụ như cung cấp lượng kali và bicarbonate bị mất do tiết nước bọt và giảm lượng thức ăn). Mèo thường sẽ bỏ ăn do mất khứu giác vì nghẹt mũi và các vết loét trong khoang miệng, có thể nghiền nhuyễn thức ăn để giảm đau khi nhai nuốt, hâm nóng để tăng mùi vị, sử dụng thuốc kích thích ăn (ví dụ: cyproheptadine…) Nếu mèo bỏ ăn hoàn toàn trong vòng 3 ngày, cân nhắc đặt ống nuôi ăn qua đường Mũi-thực quản hoặc thực quản-dạ dày.
  • Để ngăn ngừa bội nhiễm vi khuẩn, nên dùng kháng sinh trong tất cả các trường hợp cấp tính của bệnh đường hô hấp trên ở mèo, tốt nhất là các thuốc phổ rộng, có khả năng xâm nhập tốt trong đường hô hấp.
  • Nên vệ sinh mũi nhiều lần trong ngày bằng dung dịch nước muối sinh lý, bôi thuốc mỡ cục bộ. Thuốc có tác dụng long đờm (ví dụ như bromhexine) có thể hữu ích. Thuốc nhỏ mắt hoặc thuốc mỡ có thể được dùng nhiều lần trong ngày. Xông mũi cũng có thể được sử dụng để làm ẩm đường hô hấp.

Tổng quan về thuốc kháng vi rút

Mặc dù có rất nhiều loại thuốc kháng vi-rút sử dụng đường uống hoặc bôi tại chỗ để điều trị cho mèo bị nhiễm FHV-1, nhưng có thể có một số nhận xét chung về những loại thuốc này:

  • Không có thuốc kháng vi rút nào được nghiên cứu để điều trị FHV-1, mặc dù có nhiều loại đã được thử nghiệm và cho thấy hiệu quả. Thuốc điều trị Herpes người không chắc sẽ hiệu quả với mèo nên cần phải lưu ý khi lựa chọn.
  • Không có thuốc kháng vi rút nào đươc nghiên cứu riêng cho mèo, mặc dù thử nghiệm cho thấy an toàn khi sử dụng ở loài này. Thuốc an toàn cho người không chắc sẽ không gây độc cho mèo nên khi sử dụng phải cẩn trọng.
  • Nhiều thuốc yêu cầu sự trao đổi chất ở vật chủ mới hoạt động và những điều này vẫn chưa chắc trên mèo.
  • Các thuốc kháng vi rút thường sẽ độc hơn thuốc kháng sinh bởi vì vi rút là sinh vật nội bào bắt buộc, cộng sinh hoặc có các chất tương tự gần giống với “bộ máy cơ quan” của tế bào vật chủ. Điều này hạn chế các thuốc chống vi rút dùng tại chỗ (ở mắt) hơn là hệ thống.
  • Tất cả các chất kháng vi-rút hiện được sử dụng cho mèo bị nhiễm FHV-1 đều là thuốc kìm vi-rút. Do đó, chúng thường yêu cầu sử dụng thường xuyên để có hiệu quả.

Thuốc kháng vi-rút được khuyến nghị để điều trị tại chỗ và toàn thân đối với FHV cấp tính ở mắt. Các loại thuốc được liệt kê theo thứ tự ưu tiên giảm dần.

ThuốcPhân loạiĐường cấpHiệu quả trong thí nghiệmHiệu quả trong cơ thể vật nuôiÝ kiến
TrifluridineNucleoside analogueBôi mỗi giờ trong ngày đầu tiên và mỗi 4h những ngày sau đó (Maggs, 2001)Xuất sắcChưa xác địnhLựa chọn điều trị tại chỗ trong các bệnh lý FHV ở mắt nhưng một số con mèo không thích bôi thuốc. Độc nếu sử dụng hệ thống (Maggs,2001)
CidofovirNucleoside analogueDung dịch 0.5% bôi tại chỗĐiều trị tại chỗ cho FHV ở mắt; thuốc mạnh chỉ sử dụng 2 lần hàng ngày (Fontenelle và cộng sự, 2008; Maggs, 2010)
GanciclovirNucleoside analogueBôi tại chỗXuất sắcChưa xác địnhĐiều trị tại chỗ cho FHV ở mắt. Tác dụng tốt trong phòng thí nghiệm (Maggs và Clarke, 2004; van der Meulen và cộng sự, 2006)
AciclovirNucleoside analogueCục bộ và uốngYếu (liều cao có thể cần thiết để vượt qua sức đề kháng của virus)ítTác dụng trong phòng thí nghiệm thấp nhất đối với tất cả các thuốc kháng virus herpes (van der Meulen và cộng sự, 2006; Williams và cộng sự, 2004), tác dụng trong cơ thể thú ở mức trung bình (Williams và cộng sự, 2005). Mạnh hơn khi kết hợp với IFN-α của người (Weiss, 1989). Có thể gây độc khi sử dụng đường uống (Maggs,Năm 2001; Maggs, 2010)

L-lysine

Hiệu quả trong phòng thí nghiệm đối với FHV-1: lysine hạn chế sự sao chép của virut trong ống nghiệm. Cơ chế kháng vi rút chưa được biết rõ; tuy nhiên, có vẻ như sự đối kháng arginine của lysine khá quan trọng.

Nghiên cứu thực tế ở mèo: trong nghiên cứu đầu tiên cho thấy những con mèo được cấy mầm bệnh thực nghiệm nhận 500 mg lysine PO BID bị viêm kết mạc ít nghiêm trọng hơn nhiều so với những con mèo được dùng giả dược. Trong nghiên cứu thứ hai, những con mèo bị nhiễm bệnh tiềm ẩn nhận 400 mg lysine PO SID thải FHV-1 ít hơn so với những con mèo được dùng giả dược. Trong cả hai nghiên cứu, nồng độ arginine trong huyết tương vẫn ở mức bình thường và không có các dấu hiệu bị nhiễm độc mặc dù nồng độ lysine trong huyết tương tăng lên đáng kể ở những con mèo được điều trị.

Không nên bổ sung quá 5% lysine trong khẩu phần ăn hàng ngày.


BSTY Hồ Lê Kiều Diễm
Vietnam

Để lại một bình luận