Thuốc ho sử dụng trên chó mèo
Ho là một phản xạ phức tạp liên quan đến hệ thần kinh trung ương, hệ thần kinh ngoại biên cũng như các cơ trơn ở phế quản. Vì vậy, giảm ho có thể được thực hiện bằng nhiều cơ chế khác nhau phụ thuộc vào nguyên nhân gây ho.
Và ho cũng là một cơ chế sinh lý của cơ thể để loại bỏ/ chống lại những gì không tốt cho cơ thể ví dụ như dịch đờm. Trong trường hợp vấn đề ở đường hô hấp, sau khi ho, chó và mèo có biểu hiện khạc hoặc nuốt, điều này chứng tỏ là đang có dịch đờm nhớt ở đường hô hấp. Khi đó, sử dụng thuốc giảm ho sẽ KHÔNG HIỆU QUẢ (vẫn còn đờm kích thích phản xạ ho) vì vậy cần KẾT HỢP LIỆU TRÌNH ĐIỀU TRỊ bệnh đường hô hấp từ các bác sỹ thú y.
Mèo là một loài thiếu enzyme chuyển hoá nhiều chất ở gan để đào thải ra ngoài vì vậy mèo rất dễ bị ngộ độc. Vì vậy, trước khi sử dụng các loại thuốc/ chiết xuất thảo dược phải kiểm tra kỹ thành phần xem có độc hay không vì sử dụng thuốc ho trong thời gian dài sẽ dẫn đến nguy hiểm trong trường hợp tích tụ các độc chất không được chuyển hoá và còn làm tổn thương thận khi đào thải những chất chưa được chuyển hoá phù hợp.
Thuốc giảm ho:
Codeine phosphate
- Tác động vào phản xạ ho ở hệ thần kinh trung ương.
- Sinh khả dụng cao hơn (60%) so với những thuốc cùng nhóm do ít bị đào thải qua gan trước khi vào hệ tuần hoàn (low first-pass hepatic metabolism)
- Dạng viên hoặc si-rô uống
- Liều thấp (Chó và mèo): 0.1–0.3 mg/kg/8–12 h
- Liều cao (chó và mèo): 1–2 mg/kg/6–12 h
Butorphanol
- Tác động vào phản xạ ho ở hệ thần kinh trung ương.
- Sinh khả dụng khá thấp (dưới 20%) do bị đào thải qua gan rất nhiều trước khi vào hệ tuần hoàn (significant first pass hepatic metabolism)
- Liều uống trên CHÓ: 0.55–1.1 mg/kg/6– 12 h
- Liều tiêm dưới da cho CHÓ: 0.055–0.11 mg/kg/6–12 h (Không chỉ định dùng đường tiêm vì chống ho cần sử dụng trong thời gian dài)
Thuốc tan đờm (mucolytic):
Mèo là loài duy nhất có sialic acid trong dịch nhầy vì vậy dịch nhầy ở mèo sẽ đặc hơn nhiều so với những loài khác. Dịch nhầy bao gồm mucoprotein và DNA. Khi viêm nhiễm đường hô hấp, dịch nhầy sẽ chứa nhiều DNA từ các tế bào chết bong ra.
Bromhexine hydrochloride
- Bromhexine hydrochloride ngoài công dụng làm lỏng đờm/dịch nhầy còn có khả năng làm tăng kháng thể immunoglobulin IgA và IgG và làm tăng khả năng hấp thu kháng sinh vào các phế nang vì vậy, sử dụng Bromhexine hydrochloride còn giúp tăng hiệu quả điều trị bằng kháng sinh.
- Tuy nhiên, Bromhexin hydrochloride không hiệu quả đối để làm tan dịch nhầy chứa nhiều DNA (từ các tế bào chết) trong quá trình viêm.
- Liều uống cho chó và mèo: 2mg/kg/12h trong 7-10 ngày đầu và giảm xuống 1mg/kg/12h trong 7-10 ngày sau đó.
Acetylcysteine (N-acetylcysteine)
- Acetylcysteine có khả năng làm tan cả những dịch đờm chứa nhiều DNA do quá trình viêm (khả năng này tốt hơn so với Bromhexine) khi sử dụng ở dạng xông.
- Tuy nhiên, Acetylcysteine dạng xông có thể gây kích ứng niêm mạc ở hệ hô hấp dẫn đến ho và co thắt phế quản.
- Liều xông ở chó và mèo: 5–10 mg/kg trong 30 phút mỗi 12 tiếng.
Thuốc long đờm (expectorant)
Thuốc làm tăng thể tích của dịch nhầy để dịch có thể dễ dàng được ho khạc ra. Xông bằng nước muối sinh lý cũng vừa có tính chất tan đờm và long đờm để dịch dễ dàng được khạc ra ngoài.
Guaifenisin / guaiacolsulfonate
- Tác dụng phụ: có thể gây ói
Dịch và biên soạn:
BSTY Bùi Phương Anh – BSTY Huỳnh Thế Vinh
Wrocław, Poland
Tham khảo:
Small animal Clinical Pharmacology Second Edition, 2008, JILL E MADDISON, STEPHEN W PAGE and DAVID B CHURCH
